Thưa ngài Chủ tịch,
Cảm ơn Ngài đã tạo điều kiện cho tôi gửi văn bản phát biểu này với tư cách là Chủ tịch và Trưởng ban Giám đốc Viện Aspen nhân phiên điều trần của Tiểu ban với chủ đề: “Trách nhiệm của chúng ta đã bị lãng quên: Chúng ta có thể làm được gì cho các nạn nhân Chất Da cam ?". Viện Aspen là một tổ chức phi lợi nhuận quốc tế có nhiệm vụ phát huy những hoạt động lãnh đạo sáng suốt và đối thoại cởi mở. Hơn 20 năm qua Viện Aspen đã thúc đẩy hàng loạt các hoạt động Kênh Hai nhằm tăng cường hiểu biết và hợp tác hơn nữa giữa Hoa Kỳ và các kẻ thù cũ của mình trong Chiến tranh Việt Nam. Trong những năm cuối thập niên 1980 và đầu 1990, Dự án Đông dương của Aspen đã tập hợp được các nhà hoạch định chính sách và học giả hai bên bờ Thái Bình Dương cùng nhau cổ vũ bình thường hoá giữa Hoa Kỳ và Việt Nam , Lào, Căm-pu-chia.
Công việc hiện nay của Aspen trong lĩnh vực này đã trở nên cụ thể hơn nhưng vẫn quan tâm đến giải quyết các hậu quả chiến tranh. Năm ngoái Aspen đã phát động một chương trình giúp đỡ và trao đổi vấn đề Chất Da cam/Dioxin, nhằm giáo dục người Mỹ về tình hình Dioxin vẫn đang tác hại đến sức khoẻ của người và môi trường Việt Nam. Ngoài ra, tôi còn rất vinh dự được làm Đồng Chủ tịch Nhóm Đối thoại Hoa Kỳ-Việt Nam về Chất Da cam /Dioxin cùng với bà Tôn Nữ Thị Ninh, Chủ tịch sáng lập Đại Học Trí Việt, nguyên là Phó trưởng ban Đối ngoai Quốc Hội Việt Nam.
Phạm vi vấn đề
Thông qua hồ sơ Bộ Quốc phòng và các công trình nghiên cứu gần đây, người ta đã có thể định lượng các chất diệt có Dioxin được rải xuống Việt Nam trong chiến tranh từ năm 1962 đến 1971. Hoa Kỳ đã rải ít nhất 20 tấn hoá chất — mặc dù các báo cáo mới phát hiện cho thấy số lượng sử dụng còn lớn hơn rất nhiều — để khai quang các khu rừng rậm và phát hiện việc chuyển quân và thiết bị từ Bắc vào Nam, phá huỷ các vụ mùa của đối phương. Trong thời gian này, Chất Da cam và các chất diệt cỏ khác được cất giữ ở các căn cứ không quân lớn của Hoa Kỳ như Đà Nẵng và Biên Hoà. Thùng chứa các hoá chất này thỉnh thoảng lại rò rỉ hoặc vung vãi ra bên ngoài, thấm vào trong đất và nước mưa cuốn đưa vào các cộng đồng xung quanh các căn cứ .
Chúng ta có thể chưa bao giờ định lượng được những thiệt hại về sức khoẻ và môi trường của Việt Nam do chất này gây ra trong thời chiến. Tuy nhiên, chúng ta có thể nhìn thấy tác động của nó thông qua các con số dị dạng bẩm sinh, ung thư và các bệnh tật khác được người ta tin là do chất Dioxin nằm trong cơ thể của các cựu chiến binh Việt Nam và con cái của họ, cũng như trong dân thường sống trong các vùng bị rải hoá chất hoặc cất giữ gây ra. Những ước tính sơ bộ của chính phủ Việt Nam cho thấy có thể có đến một triệu người bị tác động theo cách này. Một vài triệu hécta Anh thực vật bị phun rải tàn phá về lâu dài có thể được phục hồi, nhưng sinh thái của những khu vực bị ảnh hưởng lại bị đảo lộn trong niều thập niên; một số loài động vật có nguy cơ bị diệt chủng.
Sự tàn phá đó không phải chỉ có thế. Hoa Kỳ đã để lại 25 "điểm nóng". Tại đó Chất Da cam đã rò rỉ hoặc vương vãi ra ngoài. Những điểm nóng rất độc đó vẫn tiếp tục nhiễm những người sống trong vùng. Như vậy, Chất Da cam hàng ngày lại tìm thấy các nạn nhân mới ở Việt Nam. Đồng thời, số trẻ dị dạng bẩm sinh do bị tổn thương gien gây ra bởi Dioxin hiện đã xuất hiện trong thế hệ thứ ba của người Việt Nam. Tính chất phức tạp của tình hình ô nhiễm đang diễn ra đòi hỏi phải có nhiều biện pháp nhằm giảm thiểu mức độ phá hoại của Chất Da cam thay vì chỉ có một biện pháp duy nhất nào đó.
Đối thoại Hoa Kỳ-Việt Nam về Chất Da cam/Dioxin
Mặc dù các quan hệ Hoa Kỳ-Việt Nam đã khá phát triển trong thập niên qua, vấn đề Chất Da cam là một trở ngại quan trọng cho mối quan hệ đó trở nên sâu sắc hơn. Cần phải có hai loại quan hệ đối tác để giải quyết vấn đề đa diện này . Thứ nhất, chính phủ Hoa Kỳ và các thiết chế xã hội dân sự Hoa Kỳ phải cùng nhau đáp lại mạnh mẽ nhất và nhân đạo nhất. Thứ hai, cần phải có quan hệ đối tác giữa người Việt và Mỹ để nhận diện những khả năng can thiệp phù hợp và triển khai các chương trình một cách có hiệu quả nhất .
Đầu năm 2007, Nhóm Đối thoại Hoa Kỳ-Việt Nam về Chất Da cam /Dioxin được thành lập nhờ sự lãnh đạo và nguồn tài chính của Ford Foundation. Bà Susan Berresford, nguyên chủ tịch Ford Foundation, đã đứng ra triệu tập Nhóm Đối thoại, có nhiệm vụ tìm cách xây dựng một khả năng đáp ứng nhân đạo tập thể, hai bên và song phương trước một vấn đề nhạy cảm mà lâu nay vẫn không thể có một giải pháp dễ dàng gì. Nhóm Đối thoại đã có 3 cuộc họp trong năm ngoái, hai ở Việt Nam, và một ở Hoa Kỳ. Tại Việt Nam, Nhóm Đối thoại đã đi thăm các nạn nhân phơi nhiễm Dioxin ở nhiều nơi, như thành phố Hồ Chí Minh; Biên Hoà; Đà Nẵng; Quảng Ngãi; và Thái Bình.
Nhóm Đối thoại không phải là tổ chức tự thân có quỹ, nhưng nó sẽ tìm cách phát hiện những quỹ và tạo thêm các đối tác bổ sung trong 5 lĩnh vực ưu tiên sau:
·
· Ngăn chặn Dioxin tại căn cứ không quân cũ để tránh tiếp diễn nạn ô nhiễm sau này;
· Mở rộng dịch vụ cho người tàn tật, đặc biệt quan tâm đến nhân dân trong vùng bị ảnh hưởng;
· Thành lập một phòng thí nghiệm có độ phân giải cao, tầm cỡ thế giới ở Việt Nam để đo lường mức độ ô nhiễm và đóng góp vào hoạt động nghiên cứu quốc tế đối với dự án này;
· Khôi phục cảnh quan và các mặt khác của môi trường bị Chất Da cam rải trong chiến tranh tác động; và
· Giáo dục người Mỹ về tình trạng Dioxin vẫn còn tác động và "khơi thông" vấn đề này trong cộng đồng chính sách của Hoa Kỳ và với công chúng Hoa Kỳ.
Các quỹ dành cho những hoạt động ban đầu trong các lĩnh vực ưu tiên này mà Ford Foundation đã cung cấp thông qua chương trình “Sáng kiến Đặc biệt về Chất Da cam /Dioxin”. Tuy nhiên, như nói ở trên, một nhiệm vụ trọng tâm của Nhóm Đối thoại là nhận biết rộng rãi hơn những đối tác trong khu vực tư nhân có thể tham gia nỗ lực này. Nhóm Đối thoại cũng tìm cách giáo dục các nhà làm chính sách trong chính phủ Hoa Kỳ và các thiết chế quốc tế nhằm động viên sự đóng góp có ý nghĩa và bền vững cho việc khắc phục Chất Da cam.
Chặng đường phía trước
Mặc dù chúng ta đã thấy được thiện ý mới, tuy còn thấp, trong việc gải quyết vấn đề Chất Da cam về phía các nhà vạch chính sách và các nhóm phi chính phủ Mỹ, song vẫn còn đó một khối lượng công việc lớn chưa được thực hiện. Chẳng hạn , Ford Foundation đã cộng tác với Bộ Bảo vệ Môi trường và Bộ Ngoai giao để có thể bắt đầu ngăn chặn Dioxin tại sân bay Đà Nẵng. Nhưng việc thanh khiết thực sự phần hoá chất còn tồn lưu trong căn cứ phải chờ thêm ngân sách. Vấn đề chưa nhất trí và cũng là vấn đề dài hạn, phức tạp nhất trong chương trình lại liên quan đến việc giải quyết các chi phí y tế gây ra bởi phơi nhiễm Dioxin, và những nhu cầu sâu xa của những người tàn tật Việt Nam và gia đình họ. Mặc dù trách nhiệm đối với việc giải quyết vấn đề ô nhiễm tại các căn cứ cũ thộc về Hoa Kỳ, song người ta lại rất khó xác định một cách dứt khoát đối với những vấn đề sức khoẻ, bệnh tật. Trong lĩnh vực này, sự trợ giúp cho người tàn tật phải được thực hiện trên cơ sở nhân đạo.
Cuối cùng, chúng ta sẽ không được quên rằng các cựu chiến binh Mỹ tham gia chiến tranh Việt Nam và gia đình họ cũng chịu nhiều đau khổ do Dioxin gây ra. Họ đã tỏ ra hào hiệp trong việc giúp đỡ đối tác Việt Nam, nhưng họ cũng cần có sự quan tâm hơn cùng với các dịch vụ rộng rãi hơn và bền vững hơn.
Tôi xin khuyến nghị Tiểu ban có những phiên điều trần như thế này. Đây là phiên điều trần lần đầu tiên bàn đến vấn đề Chất Da cam ở Việt Nam trên diễn đàn Quốc hội. Tôi hy vọng rằng những phiên điều trần như vậy sẽ phục vụ hai mục tiêu. Thứ nhất, những phiên điều trần sẽ giúp giáo dục người Mỹ thấy rõ sự cần thiết phải đáp ứng nhân đạo đối với vấn đề này với tư cách là một di sản bi thảm của chiến tranh và đang bám rễ sâu trong tiềm thức quốc gia của chúng ta . Thứ hai, những phiên điều trần sẽ cuối cùng dẫn đến những văn bản pháp lý riêng rẽ và các biện pháp chính quyền khác có giá trị đảm bảo rằng người Việt Nam không còn hàng ngày vẫn tiếp tục bị nhiễm độc hoá chất đã sử dụng trong chiến tranh và rằng những người trước đây bị phơi nhiễm, bị tàn tật nặng và suốt đời, sẽ được hưởng trợ giúp nhân đạo.