Chào mừng bạn ghé thăm trang website http://www.vava.org.vn của chúng tôi

 

Tiêu điểm

       THÔNG TIN CẦN BIẾT

    Thời tiết

    Giá vàng

    Tỷ giá ngoại tệ

    Xổ số điện toán

    Chứng khoán

    Chương trình TV

     Tải về tài liệu

     Tải về phần mềm

Trang chủ Giới thiệu Hội Tin tức - Dư luận Ủng hộ chữ ký Liên hệ Tiếng Anh
•  Về Đạo luật  Alien Tort Claim Act – ATCA. (04/12/2006)

Năm 1789, Quốc hội Mỹ ban hành đạo luật về “ Quyền đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của người nước ngoài – "Alien Tort Claim Act" viết tắt là ATCA. Mục 28 USC đoạn 1350 của Đạo luật ATCA quy định:


“ Các Toà án sơ thẩm liên bang có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm bất cứ vụ kiện dân sự nào của người nước ngoài, nhưng chỉ với hành vi gây trách nhiệm ngoài hợp đồng do vi phạm luật pháp của các quốc gia hoặc vi phạm một hiệp ước nào đó mà Mỹ tham gia “. (1)

Cấu trúc của quy phạm pháp luật chứa đựng trong nó các giả định, quy định sau đây:

 

1) [người nước ngoài]

2) [được phép khởi kiện dân sự]

3) [tại các Toà án Mỹ]

4) [để đòi bồi thường thiệt hại]

5) [ngoài hợp đồng ] ,

6) [ ngoài nước Mỹ]

7) [do vi phạm luật pháp quốc tế].

 

Có thể diễn đạt nội dung quy phạm đã nêu bằng một câu dễ hiểu như sau:

 

“Người nước ngoài có quyền khởi kiện dân sự tại Toà án Mỹ để đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do những hành vi vi phạm luật pháp quốc tế gây ra“.

Đạo luật ATCA được ban hành cách đây hai trăm mười lăm năm. Đến nay, đạo luật vẫn còn  hiệu lực. nhưng trong thực tế nó ít được đem ra áp dụng. Vào những năm 60, 70, 80 của thế kỷ trước, đã có khoảng 20 vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại dân sự đối với những kẽ vi phạm nhân quyền sau đó đến cư trú tại Mỹ, như:

 

Vụ kiện đối với viên tướng người Arhentina - Guillermo Suarez Mason đã phạm tội đàn áp tra tấn và hành quyết hàng trăm công dân Arhentina sau đó bỏ trốn sang định cư tại Mỹ;

 

Vụ kiện đối với viên tướng người Indonesia Todd Panjaitan đã tiến hành cuộc thảm sát dân thường tại Dili, thủ phủ Đông Ti-mo;

 

Vụ kiện cựu Tổng thống độc tài Philippin Ferdinan Marcos. Toà đã ra lệnh Marcos phải bồi thường nhiều trăm triệu USD cho nhiều ngàn nạn nhân người Philippin bị đàn áp, hành quyết.

 

Nhưng với các vụ kiện nhằm vào các quan chức Mỹ thì chưa lần nào đượcToà án Mỹ chấp nhận. Ví dụ: Đơn kiện Tổng thống Mỹ Ronaldo Reagan, Giám đốc CIA, những người đã trao tiền bạc, vũ khí cho nhóm phản cách mạng Contra gây ra nhiều cuộc thảm sát dân thường tại Nicaragua đã bị Toà án Mỹ bác bỏ với lý do Chính phủ Mỹ được hưởng đặc quyền miễn trừ trách nhiệm.

 

Đã có trường hợp, Toà sơ thẩm Liên bang Mỹ chấp nhận đơn kiện đối với các quan chức Mỹ do vi phạm luật quốc tế tại Mỹ. Vụ kiện Jama là ví dụ. Các nguyên đơn trong vụ Jama là những người xin tỵ nạn chính trị tại Mỹ. Họ được đưa tới tạm giữ tại các cơ sở của Cục xuất nhập cảnh và định cư của Mỹ. Tại đây họ bị lạm dụng về tình dục, bị đối xử tàn ác, vô nhân đạo. Trong vụ Jama, Toà sơ thẩm Liên bang Mỹ đã ra quyết định công nhận rằng các quan chức Mỹ, các Công ty hoạt động theo hợp đồng với Chính phủ và nhân viên của họ đều có thể bị khởi kiện do vi phạm luật quốc tế về quyền con người. Đây là trường hợp đầu tiên Toà án Mỹ vận dụng đạo luật ATCA để xử vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại mà bị đơn là quan chức Mỹ.

 

Năm 1993, căn cứ vào ATCA, lần đầu tiên 30.000 công dân Ecuador đã kiện Công ty Texaco. Hàng ngày, khi khai thác dầu mỏ tại vùng Amazon, Texaco đã thải ra 4,3 triệu ga-lông nước độc hại vào môi trường. Dân chúng địa phương  bị mất đất sản xuất dẫn đến sự tan rã về mặt xã hội, gần như là một sự tuyệt chủng về văn hoá. Texaco phủ nhận đơn kiện với lý do rằng đây không phải là sự vi phạm quyền con người. Trong trường hợp này không có  tra tấn, đàn áp, không có sự vi phạm quyền con người,  không có vi phạm luật quốc tế! Vào tháng 4 năm 1994, Thẩm phán Toà án sơ thẩm Liên Bang - Vincent Broderich trích dẫn Tuyên bố Rio 1992 và các Công ước quốc tế có liên quan đến môi trường để quyết định thụ lý vụ án Texaco. Qua vụ Teaxo, cho thấy ATCA, từ chỗ được sử dụng để chống lại các hành vi của một số quan chức vi phạm quyền con người, được mở rộng sang lĩnh vực chống lại các Công ty có những hành vi  huỷ diệt môi trường.

 

Đạo luật ATCA không quy định thời hiệu về khởi kiện.

 

ATCA và vụ kiện của các nạn nhân chất độc da cam/đioxin Việt Nam:

 

Các nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam (Nạn nhân VN) đã vận dụng đạo luật ATCA để tiến hành vụ kiện tại Toà án Mỹ với những cơ sở pháp lý như sau:

 

I). Các Công ty hoá chất Hoa kỳ (CTY HCHK) đã sản xuất và bán cho Quân đội Mỹ nhiều loại hoá chất mang các mã danh: chất trắng, chất tím, chất xanh, chất da cam,... gọi chung là chất độc hóa học dioxin để tiến hành cuộc chiến tranh hoá học tại miền Nam Việt Nam trong những năm 1961-1975. Các CTY HCHK, bằng những hành vi của mình, đã vi phạm các Luật pháp quốc tế về cấm sản xuất, sử dụng, lưu trữ, chuyển giao chất độc để tiến hành chiến tranh hoá học;

 

II).  Các CTY HCHK đã vi phạm quy định của luật pháp Mỹ về trách nhiệm đối với sản phẩm. (Product litigation). Mục 402A của Tập Restatement of Torts quy định:

 

1)- Một người bán bất kỳ một sản phẩm nào trong tình trạng có khiếm khuyết có thể có tính nguy hiểm cao cho người sử dụng, hoặc cho khách hàng, hoặc cho tài sản của họ sẽ phải có trách nhiệm về các thiệt hại thể chất xẩy ra đối với người sử dụng, hoặc khách hàng  hay tài sản cuả họ, nếu:

 

a) Người bán tham gia vào việc kinh doanh sản phẩm đó; và

 

b) Sản phẩm đó đã có thể, hoặc đã tới người sử dụng, hoặc khách hàng mà không có sự thay đổi đáng kể nào về điều kiện hay tình trạng của sản phẩm nh­ lúc bán.

 

2) Nguyên tắc quy định tại khoản 1 trên cũng áp dụng trong trường hợp:

 

a) Người bán đã thực hiện tất cả nhũng sự thận trọng có thể trong việc chuẩn bị và bán sản phẩm, và

 

b) Người sử dụng hoặc khách hàng đã không mua sản phẩm từ hoặc giao kết bất kỳ một thoả thuận hợp đồng nào với nguời bán.

 

Theo quy định tại mục 402 A, người bán bao gồm người bán lẻ, người bán buôn, hoặc nhà sản xuất. Thiệt hại bao gồm thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng và thiệt hại về kinh tế, tài chính.

 

III) Vụ kiện của các nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam là vụ kiện dân sự    để đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

                     

Lý lẽ tranh tụng của phía bị đơn và phán quyết sơ khởi  của Thẩm phán Toà sơ thẩm Liên ban Hoa kỳ.

Các Nguyên đơn - Nạn nhân VN, nộp đơn kiện các Công ty Hoá chất Hoa kỳ (CTY HCHK) lên Toà sơ thẩm Liên Bang Hoa kỳ quận Brúc-linh (Brooklyn), bang New-Yoork vào ngày 31 tháng 1 năm 2004. Ngày 28/02/2005, các bên tiến hành tranh tụng miệng tại Toà sơ thẩm. Ngày 10/3/2005, Thẩm phán J.Weinstein ra phán quyết sơ khởi đối với vụ kiện.

 

Trong tranh luận bằng văn bản và tranh luận miệng tại Toà, phía Bị đơn, các CTY HCHK, đã nêu ra các lý lẽ biện hộ chủ yếu sau đây:

 

1)     Các sản phẩm của họ cung cấp cho quân đội Hoa kỳ là các chất diệt cỏ, là sản phẩm được lưu hành rộng rãi trên thị trường;

 

2) Chính phủ và Quân đội Hoa kỳ được hưởng quy chế miễn trừ trách nhiệm. Các CTY HCHK  cung cấp sản phẩm cho quân đội Hoa Kỳ theo chế định sản xuất hàng quốc phòng nên cũng được hưởng quy chế này. ( Lý lẽ biện hộ này đã bị Toà sơ thẩm bác) .

 

3) Việc sử dụng chất diệt cỏ nhằm mục đích khai quang trong chiến tranh Việt Nam đã được Quốc hội Mỹ chuẩn chi và Tổng Thống Mỹ ra lệnh tiến hành. Đó là những việc thuộc thẩm quyền của ngành Lập Pháp và Hành pháp. Nếu Toà thụ lý vụ kiện tức là T­ pháp đã can thiệp vào công việc của Lập pháp và Hành pháp. Điều này trái với nguyên tắc Tam quyền phân lập của nhà nước Hoa kỳ. (Lý lẽ biện hộ này đã bị Toà sơ thẩm bác). 

 

4)  Chiến tranh đã chấm dứt từ hơn 30 năm trước. Thời hiệu vụ kiện đã hết. (Lý lẽ biện hộ này đã bị Toà sơ thẩm bác).

 

5)  Nguyên đơn đòi bồi thường chiến tranh. Bồi thường chiến tranh là vấn đề giữa các Chính phủ. Cá nhân không có quyền đòi hỏi bồi thường chiến tranh. (Lý lẽ này đã bị Toà sơ thẩm bác). 

 

6) Hội Nạn nhân chất độc da cam đioxin Việt nam không có tư cách tiến hành vụ kiện dân sự vì Hội là một tổ chức. (Lý lẽ này đã bị Toà sơ thẩm bác).

    

Trong sáu lập luận biện hộ chủ yếu của bị đơn thì có năm lập luận đã bị Toà sơ thẩm bác. Điều này đồng nghĩa với việc Toà chấp nhận các lập luận tiến hành vụ kiện của phía Nguyên đơn. Toà sơ thẩm bác đơn kiện của Nguyên đơn chỉ với một lý do như sau: “Các chất diệt cỏ tuy có chứa chất độc đioxin, với tỷ lệ 10/1.000.000, có gây ra những hậu quả phụ, nhưng đặc trưng vẫn là chất diệt cỏ". Hệ lụy phán quyết này là Toà không công nhận chất da cam có chứa chất đioxin là chất độc. Không phải là chất độc thì không có sự vi phạm luật nội bộ nước Mỹ. Không phải là chất độc thì không có chiến tranh hoá học, không có sự vi phạm pháp luật quốc tế. Việc vận dụng đạo luật ATCA cho vụ kiện là không có cơ sở pháp lý.

 

Trong phán quyết, Toà sơ thẩm còn ghi thêm rằng nếu Toà Phúc thẩm đảo ngược lại phán quyết trên đây thì Toà sơ thẩm sẽ dành thời gian và sức lực đễ xem xét lại vấn đề.

 

Việc Toà sơ thẩm Liên bang không công nhận chất da cam là chất độc là việc phủ nhận  sự thật khách quan. Toà sơ thẩm đã có thái độ thiên vị, đi ngược lại công bằng công lý. Phán quyết của Toà sơ thẩm gây bất bình rộng rãi trong nhân dân, trong các giới khoa học, giới luật học, các chính khách của nhiều nước, trong đông đảo Cựu chiến binh các nước tham chiến cùng Mỹ tại Việt Nam.

 

Việc các nạn nhân chất độc da cam đioxin Việt nam vận dụng đạo luật ATCA và đạo luật về Trách nhiệm sản phẩm của Hoa Kỳ để tiến hành vụ kiện là có đầy đủ cơ sở pháp lý và thực tiển, không thể bác bỏ.

 

Ngày 08/04/2005, các Nguyên đơn đã tiến hành kháng án lên Toà phúc thẩm Hoa  Kỳ. Cuộc đấu tranh về mặt pháp lý còn diễn biến phức tạp. nhưng sự thật và lẽ phải thuộc về phía các nạn nhân Việt Nam. Lương tri của nhân loại tiến bộ thức tỉnh. Nhân dân nhiều nước trên thế giới đã tỏ rõ sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của các nạn nhân Việt Nam dưới nhiều hình thức. Phong trào quốc tế ủng hộ cuộc đấu tranh đòi công lý của các nạn nhân chất độc da cam đang hình thành.

 

________________________________________

(1)The district Court shall have original jurisdiction of any action by an alien for a tort only commited in violation of the law of nations or a treaty of the United States.

LS. Lê Đức Tiết


 
 

Các bài mới:
     . CHẤT ĐỘC DA CAM VÀ LƯƠNG TÂM NƯỚC MỸ (15/09)
     Viết từ Mỹ: Công lý phải thuộc về các nạn nhân chất độc da cam (12/06)
     Thí điểm khôi phục đất lâm nghiệp bị ảnh hưởng chất độc màu da cam tại Quảng Trị (04/04)
     Nghiên cứu của Không lực Hoa Kỳ về hậu quả chất da cam: Nguy cơ ung thư chưa được đánh giá đúng (08/12)
     Di sản của chiến tranh: Thêm bằng chứng về mối quan hệ giữa chất độc Da cam và dị tật bẩm sinh (08/12)
     Nghiên cứu chất độc da cam của Mỹ : Một sự thật đã bị cố tình gạt bỏ (06/12)
     Bồi thường thiệt hại do chất độc da cam ở Việt Nam (06/12)
Các bài đã đăng:
     Cần Giờ hướng tới một đô thị sinh thái (28/08)
     Ngày vì nạn nhân chất độc da cam Việt Nam (25/08)
     Không ăn động vật sống ở lớp bùn và mỡ gia cầm ở “vùng nóng” (11/08)

Các tin khác 

Tìm kiếm
 

Liên kết Websites

Các nhà tài trợ

417188

@Trang thông tin điện tửVava - Hội nạn nhân chất độc da cam
Địa chỉ: B17 Kim Liên-Đông Đa-Hà Nội
Điện thoại:(+84)-4-5745658. Fax:(+84)-4-5745658