
Anh Nguyễn Văn Quý có hai con bị dị tật bẩm sinh do chất độc da cam trong một bức ảnh đăng kèm bài viết về "Thế hệ nạn nhân kế tiếp của chất da cam" trên tờ The New York Times.
Lá đơn kiện tập thể thứ hai
Năm 1989, bà góa Shirley Ivy đâm một lá đơn kiện khác lên Tòa án bang Texas, sau khi khước từ nhận phần đền bù mà bà cho là quá ít ỏi trước những thương tổn mà chồng bà phải chịu đựng (trước đó, chồng bà - đại úy Donald Ivy - chết vì ung thư gan, tụy).
Lần này, bà Shirley cùng các cựu chiến binh (CCB) tin rằng họ có nhiều cơ may thắng lợi hơn do các chứng cứ về tác hại của CĐDC đã tích tụ nhiều hơn trước và cũng thuyết phục hơn. Khí thế một lần nữa lại dấy lên. Luật sư Rob Hager của bà Shirley nói: "Sau năm 1984, hàng ngàn CCB đã lộ rõ các triệu chứng về CĐDC... Sẽ có thêm hàng ngàn người nữa tham gia vụ kiện của Shirley Ivy...".
Thế nhưng nhiệt tình mới này đã vấp ngay các thẩm phán liên bang, những người một lần nữa lại can thiệp bằng cách không cho phép tiến trình tố tụng này diễn ra như bình thường.
Đầu tiên là về địa điểm diễn ra phiên tòa. Các thẩm phán liên bang đòi chuyển vụ án khỏi Tòa Texas và giao vụ này cho phòng xử liên bang New York của thẩm phán Weinstein. Yêu sách này đã khiến các CCB rất phẫn nộ. Trong khi đó, các công ty hóa chất cũng công khai bày tỏ rằng họ chỉ muốn thẩm phán Weinstein xử lý vụ án Ivy.
Leonard Rivkin, luật sư của Dow, tuyên bố năm 1989: “Chỉ có một thẩm phán Mỹ đã đọc qua hàng triệu văn kiện và 140 quyết định của tòa án liên quan tới việc này. Tôi nghĩ sẽ là không công bằng nếu một thẩm phán khác bắt đầu lại từ đầu!". Việc chuyển vụ Ivy về Tòa án New York đã được xem xét tại ba phiên tòa liên bang trước khi đến Brooklyn.
Sau khi kéo dài vụ kiện 18 tháng bằng việc "chuyển tòa" này, các công ty hóa chất đột nhiên thay đổi sách lược: biết rằng việc chuyển tòa là bất hợp pháp, họ đã tiến hành một bước đi chưa từng có: yêu cầu thẩm phán Weinstein chỉ thị cho Tòa Texas không thụ lý vụ án...
Thứ hai là chuyện luật sư. Các luật sư của bên nguyên trong vụ kiện năm 1984 đã không khai thác được các bằng chứng tích tụ về CĐDC và tư lợi để vụ này kết thúc sớm, do đó có mâu thuẫn lợi ích sâu sắc với các CCB tham gia đợt kiện thứ hai. Thế nhưng thẩm phán Weinstein vẫn khăng khăng rằng các luật sư bên nguyên trong vụ kiện đầu đương nhiên phải đại diện cho họ trong vụ kiện sau.
Một số CCB (của đợt kiện sau) không đồng ý các luật sư cũ đã đâm đơn kiện độc lập. Nhưng không một đơn kiện độc lập nào thoát khỏi bàn tay của thẩm phán Weinstein vì ông này làm mọi cách để vô hiệu hóa mọi chứng cứ của các CCB (như tạo ra những điều luật mới, không để bồi thẩm đoàn tiếp cận các chứng cứ, tấn công vào uy tín của các chuyên gia bên nguyên...).
Vụ việc lại kết thúc đáng buồn: năm 1992, Tòa án tối cao Mỹ không chấp nhận những lập luận của bên nguyên và xếp lại vụ án. Nói theo thuật ngữ tòa án: “Vấn đề đã được giải quyết”.
Che chắn và ém nhẹm
|
Ở Hàn Quốc, 17.000 CCB là nạn nhân CĐDC trong chiến tranh VN đã gửi đơn kiện tập thể lên Tòa án Seoul đòi các công ty hóa chất Mỹ bồi thường cho những thiệt hại của họ.
Mới đây, 30 CCB Hàn Quốc đã biểu tình trước trụ sở Liên Hiệp Quốc, giương cao những bức ảnh nạn nhân CĐDC, đòi các công ty hóa chất Mỹ bồi thường.
Vụ kiện cũng đang nóng lên ở New Zealand khi luật sư Ron Mark của các CCB tại VN tuyên bố (ngày 7-7-2003) "lời trấn an của chính phủ rằng binh lính New Zealand tại VN “chưa bao giờ bị ảnh hưởng bởi CĐDC” là không đúng".
Các tài liệu của Úc cho thấy binh lính New Zealand đã trực tiếp phun CĐDC tại VN. |
Đáng tiếc là vụ này đã được xếp lại giữa lúc các chứng cứ về tác hại của CĐDC đang ngày một dày hơn lên. Các chuyên gia trong lĩnh vực đã đi dần đến sự nhất trí rằng tác nhân da cam là một trong những độc chất nguy hiểm nhất hành tinh.
Tháng 8-1990, Ủy ban các hoạt động chính phủ của Hạ viện Mỹ đã công bố một báo cáo nhan đề: “Che đậy tác nhân da cam”, trong đó ủy ban này cáo buộc Nhà Trắng thời Reagan đã che chắn, giảm tối thiểu những hậu quả về sức khỏe đối với các CCB Mỹ ở VN từng tiếp xúc với CĐDC.
Và không chỉ Chính phủ Mỹ lừa mị. Trong một giác thư tháng 11-1990, tiến sĩ Cate Jenkins của Cục Bảo vệ môi trường Mỹ đã tố cáo Công ty Monsanto tạo ra các nghiên cứu giả về dioxin và giới thiệu chúng cho cuộc điều tra hình sự. Thẩm phán Weinstein đã dựa vào các nghiên cứu giả mạo này để khước từ phiên tòa xử đơn kiện của nguyên đơn Ivy.
Ngoài ra, các công ty hóa chất còn được che chắn bởi một đạo luật cho các công ty quốc phòng quyền miễn tố. Cần nói rõ là luật này do Tòa án tối cao của Mỹ đưa ra, một điều luật được cho là vi phạm quyền chỉ có khối lập pháp mới được ra luật (do hiến pháp Mỹ quy định).
Năm lần trong những năm từ 1979 (từ khi Ivy đâm đơn kiện) tới 1986 Quốc hội Mỹ liên tục bác bỏ yêu cầu cấp quyền miễn tố cho công nghiệp quốc phòng, khiến Tòa án tối cao Mỹ phải đưa ra qui định này để che chở cho các công ty quốc phòng.
Trong một phiên điều trần tại Quốc hội Mỹ, cựu đô đốc Elmo Zumwalt, người từng ra lệnh rải CĐDC xuống nhiều vùng ở VN thập niên 1970 và con trai ông - một CCB Mỹ ở VN, chết vì các căn bệnh ung thư do CDĐC gây nên - đã nói "sự thật đáng buồn" khi thực hiện cuộc nghiên cứu của ông về CĐDC.
Ông cho biết không chỉ “có bằng chứng tin cậy nối một số loại ung thư và những bệnh khác với CĐDC, mà còn là thái độ của chính phủ và những quan chức công nghiệp khác khi ém nhẹm những thông tin thuyết phục về tác hại đối với sức khỏe của CĐDC”. Cách đối xử với các CCB đã bị hạ nghị sĩ Ted Weiss, từng chủ tọa một tiểu ban điều trần về CĐDC, cô đọng như sau: “Đó là sự sỉ nhục binh lính, những kẻ chết trên chiến trường lạ và những người mới chết hôm nay vì tiếp xúc với CĐDC mấy thập niên trước đó".
Cuộc chiến chưa chấm dứt
Sau đơn kiện của bà Ivy, thẩm phán Weinstein phải giải quyết một số đơn kiện cá nhân: của cựu binh Daniel Stephenson và Joe Isaacson cùng chín đơn kiện khác tại Tòa án quận Brooklyn. Các cựu binh này ngã bệnh sau khi quỹ đền bù 180 triệu USD đã cạn kiệt năm 1994. Tại phiên sơ thẩm (30-11-2001), thẩm phán Weinstein đã bác đơn kiện của Stephenson và Isaacson với lý do vụ xử năm 1984 đã giải quyết xong xuôi.
Tuy nhiên, một hội thẩm đoàn đã lật ngược phán quyết của Weinstein, nói rằng hai CCB trên chỉ biết mình bị bệnh do CĐDC sau năm 1994, nên không thể ghép vào vụ xử năm 1984 được. Phán quyết của Weinstein cho vụ kiện của Stephenson và Isaacson dự kiến sẽ được đưa ra vào tháng mười năm nay và vị thẩm phán 82 tuổi này định sẽ lại ủng hộ các công ty Mỹ, "trừ phi có một áp lực nào đó buộc tôi phải thay đổi".
Dẫu thế, Weinstein cũng nói ông không chắc lập luận của các công ty hóa chất (kiểu "chúng tôi bị buộc phải làm thế (cung ứng CĐDC) theo lệnh chính phủ") lần này còn che chắn cho họ được hay không.
Nguồn Tuổi Trẻ