|
|

|
|
|
Hình ảnh về nạn nhân chất độc da cam ở Việt Nam được đăng trên báo Vanity Fair, Mỹ trong bài “Hội chứng Việt Nam” |
* Xin bà cho biết diễn tiến dẫn tới phiên tranh tụng lần này?
- Bà Susan Hammond: Phiên tòa đầu tiên xử vụ này đã bị thẩm phán Jack Weinstein bác bỏ vào tháng 3-2005. Đầu tiên là vì luật pháp quốc tế cấm dùng chất độc trong chiến tranh nhưng thẩm phán Weinstein dựa vào định nghĩa của luật quốc tế thời đó cho rằng những chất diệt cỏ này đã không được dùng như chất độc hay vũ khí hóa học. Ông cho rằng không ai có ý định đầu độc đất đai hay con người Việt Nam, ngay cả khi đó là hệ quả của chiến dịch phun thuốc diệt cỏ.
|
Dự án Di chứng chiến tranh (War Legacies Project - WLP) từ ngày thành lập đã làm việc chặt chẽ với Hội Nạn nhân chất độc da cam Việt Nam (VAVA), Phòng tư vấn di truyền và trẻ em khuyết tật của Trường đại học Y khoa Huế, Làng Hữu nghị và Hội Chữ thập đỏ Việt Nam để chuyển giao các đóng góp hỗ trợ của cựu binh Mỹ tới Việt Nam. |
Ông cũng bác bỏ cáo buộc cho rằng các nhà sản xuất phải có trách nhiệm (theo luật bang New York). Lý do là những công ty này sản xuất theo hợp đồng với chính phủ nên cũng được hưởng quyền miễn truy tố trước một tòa án tại Mỹ như Chính phủ Mỹ, trừ khi hành vi của họ cấu thành tội ác chiến tranh. Chính phủ Việt Nam có thể kiện Chính phủ Mỹ ra tòa án quốc tế, nhưng đã quyết định để vụ kiện diễn ra giữa các cá thể vì xét đến mối quan hệ tốt đẹp mà hai bên đang nỗ lực xây dựng.
* Vậy tòa phúc thẩm lần này sẽ phán quyết điều gì?
- Bà Hammond: Sau khi bị bác bỏ đơn kiện năm 2005, các luật sư bên phía Việt Nam (bên nguyên) đã nộp đơn kháng cáo để nhờ tòa phúc thẩm mở lại vụ kiện. Tòa sẽ nghe hai bên trình bày và quyết định xem có cần xét xử vụ kiện theo hệ thống tòa án Mỹ không. Nói cách khác, họ sẽ quyết định các đương đơn Việt Nam có đủ nguyên do, bằng chứng hợp pháp để được tòa xử hay không.
* Xin hỏi luật sư Kokkoris, phía Việt Nam đã chuẩn bị ra sao?
|
|

|
|
|
Ông Constantine Kokkoris (phía sau) |
- Ông Constantine Kokkoris: Chúng tôi sẽ lập luận rằng thẩm phán Weinstein đã sai, các công ty hóa chất đã vi phạm các thông lệ quốc tế khi cung cấp hơn 21 triệu gallon (gần 79,5 triệu lít) thuốc diệt cỏ. Họ biết rõ chúng có chứa quá nhiều chất độc da cam dioxin và biết chúng sẽ được phun trên một diện tích rất rộng, có người sinh sống ở miền Nam Việt Nam trong một thời gian dài. Chúng tôi sẽ chứng minh các công ty này có thể hạ thấp nồng độ dioxin trong thuốc diệt cỏ bằng cách hạ thấp nhiệt độ và kéo dài quá trình sản xuất, nhưng họ đã không làm vậy để tăng sản lượng và tối đa hóa lợi nhuận.
* Xin cho biết kế hoạch của phiên tòa phúc thẩm ngày 18-6?
- Bà Hammond: Ngày 18-6 sẽ có hai phiên tòa riêng biệt liên quan tới các nạn nhân chất độc da cam. Phiên tòa đầu tiên diễn ra lúc 10 giờ sáng, sẽ nghe cựu binh Mỹ trình bày lý do kiện các công ty hóa chất. Cũng giống như các nguyên cáo Việt Nam, 16 trường hợp này bị thẩm phán Weinstein bác đơn với cùng lý do.
Phiên xử thứ hai, diễn ra lúc 1 giờ trưa, là cơ hội cho phía Việt Nam lật lại vụ việc. Ban thẩm phán của phiên xử đầu sẽ tiếp tục chủ tọa phiên xử này. Luật sư của Bộ Tư pháp Mỹ cũng sẽ có mặt trong phiên xử mà kết quả phán quyết sẽ ảnh hưởng đến họ. Bộ Tư pháp Mỹ lo ngại rằng các công ty hóa chất nếu thua sẽ làm các công ty khác không dám ký hợp đồng cung cấp vũ khí chiến tranh cho Chính phủ Mỹ hoặc sẽ tăng giá đáng kể.
* Vậy tình huống tốt nhất và xấu nhất là gì?
- Bà Hammond: Nếu được xử thắng, các nguyên đơn Việt Nam sẽ có cơ hội mở lại vụ kiện. Tòa án thượng thẩm sẽ gửi lại hồ sơ cho tòa cấp dưới xử lại và yêu cầu thẩm phán Weinstein đồng ý đưa vụ kiện ra tòa, rất có thể là với một bồi thẩm đoàn. Còn thua nghĩa là đoàn Việt Nam đánh mất quyền đưa vụ kiện ra xử trước tòa.
Tuy nhiên, dù kết quả thế nào, vụ kiện này cũng đã đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc đưa vấn đề chất độc da cam ra trước công luận, ở Mỹ cũng như ở các nước khác, và khơi dậy lòng thương cảm của mọi người. Vụ kiện có thể sẽ kéo dài nhiều năm, nhưng hằng ngày, hàng chục ngàn nạn nhân chất độc da cam ở Việt Nam đang phải đấu tranh với bệnh tật.
Chính phủ Mỹ, các quĩ, các nguồn tư nhân cần có các biện pháp nhân đạo ngay lập tức chứ không cần phải chờ đến khi có quyết định của tòa án. Các bạn có thể thấy những đóng góp nhỏ 20 USD tại các buổi chiếu phim hôm 11-6 vừa rồi nhưng mỗi đóng góp nhỏ đó có thể giúp một vài em nhỏ được đi học, chúng ta có thể mua heo, bò giúp những người bị bệnh không đi lại được có thể ở nhà chăn nuôi… Chúng tôi tập trung vào những điều nhỏ thiết thực, những điều mà các nạn nhân đang cần.
Đương nhiên việc VN kiện giờ cũng có những thuận lợi khi mọi người đang chán ghét chiến tranh, mọi người hiểu hơn về cuộc chiến tại VN và đặc biệt là ở Mỹ họ không ưa các tập đoàn lớn. Họ luôn nghĩ các tập đoàn lớn là tội ác.
|
Susan Hammond đồng hành cùng VN
|

|
|
Bà Susan Hammond |
Cha tôi từng phục vụ trong chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh VN. Hồi bé tôi biết về VN vì luôn nhớ rằng mình có người cha đang ở đó. Tôi từng đến VN hai lần vào năm 1968 và năm 1971 nhưng khi đó tôi còn quá nhỏ để nhớ được nhiều... Một sự kiện làm thay đổi sự lựa chọn của tôi là vào mùa xuân năm 1991 khi tôi cùng em gái có chuyến đạp xe vòng quanh thế giới. Khi đến VN, tôi đã bị cuốn hút bởi con người, cuộc sống và những thay đổi nơi đây...
Lúc đó tôi nghĩ rằng tôi cần phải tìm hiểu thêm nữa về VN, về ảnh hưởng của cuộc chiến ở đây. Đây chính là bước ngoặt để thay đổi cuộc đời tôi theo hướng gắn bó hơn với VN. Năm 1997, tôi bắt đầu làm việc cho Quĩ hòa giải và phát triển (FRD), một tổ chức phi lợi nhuận, và tập trung vào các hoạt động nhằm giúp bình thường hóa quan hệ giữa hai nước VN và Mỹ.
Khi quan hệ hai nước tốt hơn, chúng tôi bắt đầu chú ý hơn vào các hoạt động nhằm khắc phục hậu quả cuộc chiến và WLP đã ra đời vào năm 1999. Chúng tôi bắt đầu tập trung vào khắc phục các hậu quả của chất độc da cam, giúp đỡ các nạn nhân chất độc da cam VN, giúp dư luận hiểu hơn về các hậu quả của chiến tranh.
Đến nay tôi thấy có một sự thay đổi lớn khi ngày càng có nhiều dư luận Mỹ chú ý đến điều này hơn. Có một thực tế là ở Mỹ, người ta không nghĩ nhiều tới những ảnh hưởng ở các nước có chiến tranh. Vì lý do nào đó lịch sử về cuộc chiến tranh VN hầu như không được giảng dạy ở trường học.
Trong sách giáo khoa chúng tôi được học về cuộc chiến giành độc lập, cuộc nội chiến, cuộc cách mạng công nghiệp, Chiến tranh thế giới thứ 2 và khi dạy đến đó thì chương trình học phổ thông đã kết thúc và là lúc mọi người vào đại học. Chúng tôi chỉ biết về cuộc chiến qua lịch sử kiểu “Hollywood”.
Khi nổ ra cuộc chiến Iraq, giới trẻ Mỹ quan tâm nhiều hơn đến cuộc chiến VN khi có so sánh của các học giả, giới báo chí về cuộc chiến tại VN... |