|
Bà Susan Kedgley - người New Zealand đã bền bỉ đấu tranh chống cuộc chiến tranh Việt Nam do Mỹ tiến hành và đặc biệt là đòi Mỹ phải có trách nhiệm đối với những nạn nhân chất độc da cam/dioxin mà họ gây ra cho người dân Việt Nam.Xin giới thiệu bài phát biểu của bà tại Hội nghị quốc tế nạn nhân chất độc da cam/dioxin ở Hà Nội ngày 28 và 29-3-2006.
Giống như hàng ngàn người trên thế giới, tôi tham gia hoạt động chính trị vào năm 18 tuổi vào lúc diễn ra những cuộc biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam và vai trò tham gia của New Zealand trong cuộc chiến tranh đó.

Cũng như rất nhiều thanh niên New Zealand vào thời điểm đó, tôi kinh hoàng thấy rằng Chính Phủ của chúng tôi đang ủng hộ Hoa kỳ can thiệp vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Các cuộc phản đối Chống chiến tranh tại New Zealand đã không chỉ làm tăng nhận thức chính trị của cá nhân tôi mà còn cả nhận thức của rất nhiều người New Zealand, và đã góp phần buộc New Zealand phải rút khỏi chiến tranh vào năm 1970 cũng như từ đó đến nay không còn dính líu đến cuộc chiến tranh chiếm đóng ở nước ngoài nào khác.
Nhiều thập kỷ qua, các cựu chiến binh New Zealand tham gia cuộc chiến đã khiếu nại về rất nhiều loại bệnh tật mà họ đang gặp phải và tin rằng do phơi nhiễm chất da cam cũng như các chất khai quang độc khác được rải trên địa bàn tỉnh Phước Tuy, nơi đa số binh sĩ New Zealand đóng quân. Nhiều Chính phủ kế tiếp nhau đã bác bỏ hoặc từ chối những khiếu nại của họ - cũng như khiếu nại rằng một số chất hóa học sử dụng ở Việt Nam trong thực tế đã được sản xuất tại New Zealand.
Nhưng cuối cùng vào năm 2004 sau hơn 3 thập kỷ tham gia của chúng tôi trong cuộc đấu tranh chống chiến tranh, Ủy ban Sức khoẻ Quốc hội của chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu những tác động sức khoẻ của các cựu chiến binh New Zealand từng bị phơi nhiễm chất da cam. Với kết quả tìm hiểu đó, Chính phủ chúng tôi đã chính thức xin lỗi các cựu chiến binh vì trước đó các Chính phủ kế tiếp nhau đã không công nhận rằng họ đã bị phơi nhiễm với một môi trường độc hại tại Việt Nam.
Chính phủ đã công nhận những tác động sức khoẻ của chất da cam và các chất khai quang khác vẫn còn đang tiếp tục và họ đã tiến hành thêm một số biện pháp bảo đảm cho các cựu chiến binh bị tác động sức khoẻ và con cái cựu chiến binh mắc bệnh nứt gai đôi cột sống, hở hàm ếch hoặc ung thư tuyến giáp được hưởng chế độ chăm sóc y tế miễn phí và những trợ giúp khác. Các cựu chiến binh New Zealand tiếp tục vận động đòi được bồi thường hoặc trợ giúp cho con cái của họ.
Nhưng Chính phủ của chúng tôi chưa xin lỗi nhân dân Việt Nam về vai trò tham gia của họ trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Họ cũng chưa công nhận trách nhiệm đạo lý giúp các nạn nhân chất da cam Việt Nam với tư cách là một bên tham gia trong cuộc chiến tranh phi nghĩa và phá hoại đó.
Vì cùng tham chiến bên cạnh người Mỹ ở Việt Nam, tôi tin rằng New Zealand, Australia và Hàn Quốc đều có trách nhiệm lớn về đạo lý là giúp giải quyết những hậu quả về sức khỏe con người và môi trường mà mình đã góp phần gây ra. Tôi tin rằng tất cả các Chính phủ của chúng tôi đều có nghĩa vụ ngang nhau trong việc giải quyết vấn đề này về mặt quốc tế và gây áp lực với Chính phủ Mỹ công nhận trách nhiệm đối với tổn thương mà họ đã gây ra cho nhân dân Việt Nam do sử dụng các chất khai quang độc và phải bồi thường những thiệt hại đó.
Thật là đáng xấu hổ, sau khi rải khoảng 80 triệu lít chất da cam và các chất khai quang khác trên đất nước Việt Nam, Chính phủ Hoa Kỳ đã không hề làm gì để giúp khôi phục và bồi thường cho nhiều triệu nạn nhân và vẫn tiếp tục từ chối bất cứ trách nhiệm đạo lý hay pháp lý nào đối với những hậu quả to lớn mà họ đã gây ra cho người Việt Nam.
Chính phủ Hoa Kỳ đã cho các cựu chiến binh Mỹ từng chiến đấu tại Việt Nam được hưởng chế độ miễn phí điều trị rất nhiều loại bệnh. Thế nhưng họ lại từ chối dành bất cứ trợ giúp nào cho hàng trăm ngàn người Việt Nam cũng bị cùng các loại bệnh như vậy.
Cũng rất đáng xấu hổ là trong khi các bĩnh sĩ nước ngoài tham gia chiến đấu tại Việt Nam cũng được hưởng một vài trợ cấp tài chính từ kết quả của vụ kiện năm 1984, trong khi nhiều trên ngàn người Việt Nam với cuộc sống bị tàn phá bởi chất da cam và các hoá chất giết người khác lại chưa bao giờ được trợ cấp để phần nào xoa dịu những nỗi đau của họ.
Theo quan điểm của tôi, điều không kém phần xấu hổ nữa đó là sự im lặng - hầu như là một sự cấu kết để im lặng của nhiều chính phủ về vấn đề này. Có thể là do sợ mất tư cách là kẻ đứng về phía Hoa Kỳ, phần lớn các Chính phủ - trong đó có Chính phủ của chúng tôi đã từ chối lên tiếng về vấn đề này và đã thực sự nhắm mắt làm ngơ trước thảm kịch nhân đạo vẫn còn đang tiếp diễn tại Việt Nam. Nó đã trở thành vấn đề kiêng kỵ mà các Chính phủ hết sức tránh bàn đến. Chúng ta hãy đối mặt với nó, dù đó là một vấn đề không dễ chịu, liên quan đến việc đầu độc hàng loạt bằng hoá chất khiến thế hệ thứ hai, thứ ba con cái được sinh ra bị méo mó, dị dạng.
Nhưng chúng ta không thể để cho họ làm ngơ mãi.
Cách đây 14 tháng, trong một chuyến thăm Việt Nam tôi đã tự mình nhìn thấy nỗi đau của các trẻ em Việt Nam có cha mẹ ông bà phơi nhiễm chất da cam và các chất diệt cỏ khác. Hình ảnh của chúng ám ảnh tôi mãi cho đến tận hôm nay. Tôi chỉ ước rằng George Bush, Helen Clark và John Howard cũng đến Làng Hữu nghị và gặp những đưa trẻ này. Hy vọng những gì tận mắt chứng kiến sẽ làm cho họ động lòng và thức dậy lương tâm và họ làm một cái gì đó giúp đỡ những trẻ em đó.
Chính vì những đứa trẻ đó đã khiến tôi đi từ nửa trái đất bên kia đến đây ngày hôm nay. Chính vì những đứa trẻ đó mà chúng tôi phải khơi dậy dư luận thế giới và đòi hỏi Chính phủ Hoa Kỳ bồi thường cho nhân dân Việt Nam vì những ảnh hưởng đang tiếp diễn của chất da cam. Cuối cùng, tôi tin rằng chỉ có sức mạnh của dư luận quốc tế hoặc một toà án quốc tế mới có thể buộc người ta có hành động giải quyết vấn đề này. Tôi thật sự hy vọng rằng hội nghị và lời kêu gọi xuất phát từ đây sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc làm cho việc đó xảy ra.
VAVA (Theo Nhân dân)
|