Chúng tôi xin giới thiệu bài phát biểu của bà Jean Williams, Ủy viên danh dự Hội Cựu chiến binh Việt Nam của Australia, Nhà hoạt động xã hội nổi tiếng ở Australia, tại Hội nghị Quốc tế nạn nhân Chất độc Da cam / Dioxin ở Hà Nội ngày 28 và 29-3-2006:
Tại sao tôi lại viết sách về chiến tranh và hậu quả của nó. Điều ấy có liên quan đến cá nhân tôi. Tôi đã có hai chuyến thăm Việt Nam. Ở đó, các vết thương về thể chất còn rất nặng nề, môi trường bị ảnh hưởng nghiêm trọng, cần thiết phải có sự giúp đỡ cấp bách của quốc tế.
Một loại chiến tranh hoá học, sinh học trong cuộc xung đột ở việt Nam do quân đội Mỹ, Australia, và các nước đồng minh tiến hành đã được ghi lại trong cuốn sách của Tiến sĩ Tack McCulloch có tên là "Tính chính trị của chất da cam" do nhà xuất bản Heineman ấn hành năm 1984.
McCulloch đã viết: Công trình nghiên cứu do Lugg và Holt tiến hành tại Việt Nam rõ ràng nằm trong phạm vi nội dung của cuộc chiến tranh hoá học. Tài liệu của Lugg nói về công trình này đã được xếp loại "mật". Giáo sư hoá học George đã chết vào tuổi 51, do bị bệnh thần kinh.
Chính phủ Liên bang của chúng tôi có một công trình nghiên cứu chiều sâu đối với vấn đề sức khoẻ của con và cháu của các cựu chiến binh tham gia chiến tranh Việt Nam. Nếu Công đảng đã được bầu, thì người ta đã dành ra 1 triệu đô la để tài trợ cho công trình nghiên cứu này, chứ không phải chỉ có bước nghiên cứu khả thi. Công trình nghiên cứu của Bộ Cựu chiến binh đã gây ra nhiều quan ngại vì những người tham gia không được phép nói đến chất độc hoá học. Đã có hai người xác minh điều đó đối với tôi và họ rất tức giận do đã có nhiều bỏ sót.
Nếu Chính phủ quyết định tài trợ nghiên cứu chiều sâu thì phải mất đến 4 năm và tốn chừng 10 triệu đô la. Tuy nhiên, chuyện tốn kém không bao giờ là vấn đề, vì ông Thủ tướng John Howard đã có thể dành nhiều tiền cho vấn đề đối ngoại. Ông đã cam kết đến 1 tỷ đô la cho quỹ Aceh Tsunami và 64 triệu đô la khác dành cho các trường học đạo Hồi ở Aceh. Song chúng tôi nay đã hiểu rằng "chỉ 22 triệu sẽ chi cho Aceh, số còn lại được rải ra trên toàn lãnh thổ Indonesia để giúp xây dựng đường sá và hỗ trợ giáo dục. "Đó là theo tờ Courier Mail" của Queensland, trang 29, 10-12-2005.
Trong khi Thủ tướng quá hào hiệp với việc chi cho các chương trình đối ngoại, ông ta lại rất hà tiện với việc chi cho những nhu cầu cấp thiết của các cựu chiến binh Australia và gia đình họ.
Trong một bài báo của "Courier Mail", 28-11-2005, chúng tôi được biết rằng hai binh sĩ Australia chưa từng phục vụ ở Việt Nam cũng có các vấn đề y tế gia đình tương tự như những người bị bỏ rơi ở đất nước các bạn. Trong khi phục vụ lực lượng hậu cần, họ đã được chỉ bảo phải dùng DDT, Dieldrin và 2,4,5-T vào việc bảo quản gạo, lúa, lúa mạch, đậu, lúa mì, nho khô, đậu lăng, yến mạch đã xay trong những năm từ 1958 đến 1969 để chống mọt, mốc. Những thực phẩm này đã được người Australia và Việt Nam sử dụng. Tin tức gây chấn động này đã tạo ra mối nghi ngờ lớn đối với các công trình nghiên cứu trước đây về bệnh tật của binh sĩ Australia và con cháu họ, cũng như kết quả nghiên cứu tiền khả thi gần đây được tiến hành đối với sức khỏe trẻ em. Đây là thực tế không nên bị xem nhẹ.
Điều quan trọng là phải nhận rõ rằng Báo cáo của Hoàng gia Evatt của chúng tôi về việc sử dụng các chất hoá học độc trong chiến tranh Việt Nam đã gây ra nhiều tranh luận. Bản án đã kết luận rằng: "CHẤT DA CAM KHÔNG CÓ TỘI". Báo cáo này đã được chứng minh là một công trình nghiên cứu đầy dối trá. Tôi đã chỉ ra cho Bác sĩ Lê Hồng Thơm của Trung tâm Y tế thuộc Đại học Y Hà Nội rằng các luật sư Monsanto đã bổ sung thêm rất nhiều điều vào báo cáo cuối cùng đó.
Mặc dù, đất nước tôi có rất nhiều cựu chiến binh và con cháu của họ mắc các bệnh phát sinh từ sử dụng hoá chất độc tại nam Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh, nhưng họ chẳng có gì đáng kể để so với nỗi đau của đất nước các bạn. Những chuyến thăm đến bệnh viện Từ Dũ tại Chợ Lớn cho thấy các phòng dành cho trẻ em nên được dùng để giáo dục lại các ban giám đốc của Monsanto, Dow, Union Carbide cũng như các nhà sản xuất hoá học khác. Tôi đặc biệt cảm động khi đến thăm phòng bệnh nhân ung thư là phụ nữ trẻ, những bệnh nhân phần lớn đến từ đồng bằng Sông Cửu Long. Họ quả là những quý bà đáng yêu nhưng cũng thật đáng thương.
Đối với tôi, một vấn đề lớn là việc đưa lên báo chí quả rất khó, bởi vì quyền sở hữu nằm trong tay một nhúm công ty đa quốc gia. Họ thuộc lực lượng cánh hữu và ủng hộ nền công nghiệp hoá chất. Tại Australia, chúng tôi có một số tin trên đài phát thanh và truyền hình ABC, trong khi đài truyền hình SBS lại rất sợ chiếu các phim tài liệu gây nhiều tranh cãi và các cuộc phỏng vấn mà chúng tôi cần biết. SBS đã quay và chiếu cuốn Phim "Đám mây độc của trận chiến". Trong khi các cuốn phim tài liệu của John Pilger, nhà hoạt động có tiếng nói thẳng thắn lại không được dành chỗ nào cả.
Công trình nghiên cứu tại Đại học Sydney của nhà sinh-hoá học, Tiến sĩ John Pollack cho thấy những chiếc máy bay đã rải trên những khu vực hoạt động của binh sĩ Australia các hợp chất của chất da cam và dầu diesel, có nghĩa là bằng cách trộn hai thứ này với nhau, chất rải sẽ có độc tính cao hơn rất nhiều. Ông ta cho thấy rõ rằng các tác động gây ung thư của các hợp chất không nên bị xem nhẹ cũng như vai trò của các chất có hoạt tính bề mặt trong việc tăng cường độc tính.
Với tư cách không phải là một học giả, sự đóng góp duy nhất của tôi là viết sách về các vấn đề có quan hệ đến các nhà khoa học, cựu chiến binh và gia đình họ. Đó không phải là con đường dễ dàng. Tuy nhiên, Hội nghị này sẽ là một bước nữa trong cuộc đấu tranh vì các nạn nhân chất da cam và các hoá chất độc khác nhằm cảnh báo thế giới về thảm hoạ kinh hoàng của cuộc chiến tranh sinh - hoá học chống lại nhân dân và vùng nông thôn Việt Nam.
VAVA (Theo Nhân dân)