Chào mừng bạn ghé thăm trang website http://www.vava.org.vn của chúng tôi

 

Tiêu điểm

       THÔNG TIN CẦN BIẾT

    Thời tiết

    Giá vàng

    Tỷ giá ngoại tệ

    Xổ số điện toán

    Chứng khoán

    Chương trình TV

     Tải về tài liệu

     Tải về phần mềm

Trang chủ Giới thiệu Hội Tin tức - Dư luận Ủng hộ chữ ký Liên hệ Tiếng Anh
•  Những cái chết của họ đòi phải có công lý và những nạn nhân còn sống phải được đền bù (18/06/2007)

Ông Daniel J.Shea, một cựu binh chiến tranh Việt Nam từng phục vụ trong lực lượng Thuỷ quân Lục chiến Hoa kỳ (1968-1969) cho rằng: Những cái chết của con ông, con những người bị nhiễm chất dộc da cam/dioxin đòi phải có công lý và những nạn nhân còn sống của chất độc này phải được đền bù. Tất cả chúng ta phải làm việc để kết thúc sự điên cuồng của chiến tranh.


Chúng tôi xin trích bài phát biểu của ông Daniel J. Shea, một Cựu binh chiến tranh Việt Nam phục vụ trong lực lương Thuỷ quân Lục chiến Hoa kỳ (1968 -1969), thành viên của Hội Cựu chiến binh vì Hòa bình, Hoa Kỳ, tại Hội nghị Quốc tế nạn nhân Chất độc Da cam / Dioxin ở Hà Nội ngày 28 và 29-3-2006:

 

Tôi muốn nói với các bạn về những trải nghiệm của tôi ở Việt Nam và sự đau đớn đã gây ra cho tôi và gia đình. Trước hết, tôi muốn cảm ơn VAVA và những người tổ chức Hội nghị cho tôi có cơ hội này và đã hào hiệp mời tôi cũng như đã mời tất cả chúng ta đến đây.

 

Trong thời đại Hoa Kỳ đang có ảnh hưởng lớn tới thế giới, tôi không hề ngạc nhiên rằng các nhà lãnh đạo của chúng tôi đã nói dối và dẫn dắt chúng tôi vào một cuộc chiến tranh kéo dài ở Trung Đông, tấn công đất nước Iraq hoàn toàn bất chấp luật Quốc tế, hoặc họ đã nói dối chúng tôi mà cái giá phải trả là sinh mạng của cả nam lẫn nữ của đất nước chúng tôi và những người dân Iraq vô tội. Đó là những hình ảnh mà tôi đã từng nhìn thấy trước đây, tại Việt Nam, tại Trung Mỹ, tại Grenada, và mới đây tại Haiti.

 

Những lời nói dối luôn luôn giống nhau, chúng ta đã được giải thích rằng đó là một cuộc chiến tranh về chống khủng bố, tương tự như chúng ta đã từng được nghe về cuộc chiến tranh ở Việt Nam là một cuộc chiến tranh để ngăn chặn Chủ nghĩa cộng sản bành trướng. Họ nói những người cộng sản là những con ngáo ộp. Nhưng thực chất, những cuộc chiến tranh như vậy chỉ để phục vụ cho mục đích của họ. Họ cần một cuộc "Chiến tranh kéo dài", một cuộc Chiến tranh nóng để thay thế "Chiến tranh lạnh", thực hiện những tham vọng thống trị toàn cầu của các tập đoàn công ty. Đó là một sự sỉ nhục đối với nguyện vọng của dân lành trên thế giới chỉ muốn sống trong hoà bình.

 

Tôi có mặt ở đây chứng thực cho tội ác và những tổn thương mà đất nước tôi đã gây ra cho nhân dân và những người lính của các bạn. Chúng tôi sẽ cùng tham gia với các bạn trong cuộc đấu tranh đòi bồi thường và hòa giải và để giúp làm sao cho hai dân tộc chúng ta xích lại gần nhau hơn trong hòa bình và hòa hợp. Những công sức của các bạn và những ai có can đảm để tham gia cùng các bạn trong cuộc đấu trành này sẽ gặp phải nhiều lời nói dối của những kẻ xấu xa để bác bỏ các bạn và ngăn chặn những người trong chúng tôi đoàn kết với bạn với các loại tên gọi, lời lẽ dối trá gây nghi ngờ thông thường: bọn cộng sản, bọn xã hội chủ nghĩa, những người tự do và những tên phản bội. Đó là những từ ngữ tôi từng sử dụng một cách mù quáng trước đây nhưng bây giờ chúng không còn ý nghĩa đối với tôi nữa.

 

Chính tôi đã biết và đã hiểu ý nghĩa của những từ đó. Đó là tất cả những người đàn ông và phụ nữ chủ trương giải phóng cho những người bị áp bức, và tin tưởng vào sự lành mạnh của thế giới, mưu tìm hạnh phúc, nhân quyền và quyền lợi của người lao động và rằng có thể có một thế giới khác - Đúng như vậy - chúng ta là những người cộng sản, những người theo chủ nghĩa xã hội, những người tự do, nhưng là những kẻ phản bội đối với giai cấp thống trị và tôi không hề cảm thấy ô nhục, tôi rất tự hào được quan hệ với các bạn.

 

Năm 1968, tôi đã mất 3 tháng vô ích trên đất nước của các bạn và điều duy nhất tôi còn nhớ là 3 địa danh; Đà Nẵng, Phú Bài, và Quảng Trị. Tôi là một xạ thủ đại liên M60 của lực lượng Thủy quân lục chiến, từng được đánh giá là chuyên gia bắn súng, nhưng may mắn thay, tôi chưa bao giờ phải bắn, trừ trường hợp bắn tập. Tôi đã bị bắn tỉa và bị tấn công bằng đạn cối, nhưng rất may là tôi đã sống sót mà không có vết xây xát nào. Ít nhất tôi cũng đã nghĩ là tôi được như vậy.

 

Song, những người khác trong đại đội của tôi lại không gặp may. Những viên đạn của những người bắn tỉa đã bắn trúng mục tiêu, làm rất nhiều người bị thương. Những cánh đồng lúa mà chúng tôi hành quân qua, những bão lớn kèm theo mùa mưa và những cơn mưa kéo dài đã làm cho tôi mắc bệnh nấm hành hạ các ngón chân và làm cho tôi không thể đi bộ được. Vì loại vũ khí vô hình đó và còn vì một thực tế nữa là em trai của tôi cũng đang công tác trong cùng khu vực và đại đội với tôi, do đó tôi được phép rời Việt Nam và cuối cùng đến Philippines. Bốn tháng sau khi rời khỏi Việt Nam, em trai tôi là một trong 18 người sống sót sau cuộc hành quân Operation Meade River. Em trai Michael D. Shea của tôi có lẽ là người đã cứu vãn sinh mạng của tôi nhiều nhất, đó là người tôi rất yêu quý. Anh ta được chuyển về Hoa Kỳ và nay đang nằm trong danh sách những người chờ cấy ghép gan.

 

Sau khi hết hạn phục vụ, là khoảng thời gian giống như trong tù, tôi cố gắng ổn định cuộc sống bình thường tại thị trấn quê nhà ở Portland Oregon. Tôi luôn đặt Việt Nam trong tâm trí mình và để sống cuộc đời thanh bình. Tôi yêu và kết hôn với Arlene. Ngày 16-6-2006 sẽ đánh dấu 35 năm chúng tôi lấy nhau.

 

Chúng tôi có hai con, Casey và Harmony xinh đẹp. Casey - đứa con đầu lòng sinh ngày 16-12-1977. Ngày đó đáng lẽ phải là dịp vui mừng nhất trong đời nhưng cháu lại sinh ra với bệnh tim bẩm sinh, hở hàm ếch, dạ dày dị dạng, và buộc phải có sự chăm sóc đặc biệt. Tôi từng nghĩ là tôi đã sống sót ở Việt Nam, nhưng chiến tranh không dừng lại mà tiếp tục làm tổn thương gia đình và tâm trí tôi. Việc phơi nhiễm chất da cam là điều đầu tiên tôi nghĩ đến.

 

Tôi không có nhiều thời gian để buộc tội quân đội, các công ty hóa chất hoặc thưa kiện ra tòa về những tổn thương của mình. Tôi chỉ có thời gian dành cho con trai, vợ tôi và con gái chúng tôi. Cháu bé sinh ra 14 tháng sau đó, tức là vào tháng 2-1979.

 

Với tư cách là một nghệ sĩ, tôi cố gắng để hiểu bệnh tật của con trai mình bằng cách học sinh học và mọi thứ để có thể hiểu tình hình bệnh tim của nó và từ đó có thể rút ra được vài điều chính xác. Tôi muốn tìm cách điều trị cho con trai tôi, thậm chí ứng dụng thành tựu của Đại học City College tại nơi chúng tôi ở.

 

Trong năm 1980, ô-xy trong máu của Casey quá thấp và tình trạng đau nhức chân của cháu ngày càng trở nên liên tục, khả năng chạy, chơi và giữ em ngày càng trở nên khó khăn. Nó được thu xếp để giải phẫu tim vào cuối năm 1980 nhằm làm cho ô-xy lưu thông. Tôi vẫn có thể nhìn thấy bàn tay của con trai tôi với về phía mình và kêu to: Bố, Bố, Bố khi các hộ lý đẩy nó trên chiếc xe lăn qua hai lần cửa ra vào. Tiếng nói của nó chìm dần trong tiếng vọng của phòng lớn vô trùng. Tôi vẫn ám ảnh hình ảnh đó cho đến tận ngày nay bởi vì tôi có dự cảm khủng khiếp là sẽ không bao giờ nhìn thấy con trai mình lần nữa. Tôi đã quá kinh sợ và cố gắng rút phích cắm điện dành cho việc giải phẫu, giải thích những điều lo lắng của tôi với nhân viên và hội đồng bệnh viện và họ đã bảo đảm với tôi rằng nỗi sợ hãi của tôi là bình thường. Họ khuyên tôi cần phải theo đuổi ca giải phẫu này vì đó là điều có lợi nhất cho con trai tôi, nhưng họ đã nói dối.

 

Tôi cố kìm nén trực giác tự nhiên của mình và cho phép ca giải phẫu bắt đầu. Sau 10 giờ giải phẫu, một bác sĩ tham gia ca phẫu thuật đi ra và kể cho chúng tôi biết có cái gì đó sai và Casey đã bị một cú sốc ô-xy tới não và đang bị hôn mê. Casey tiếp tục hôn mê 7 tuần liền, trong thời gian đó nó vẫn phải sẵn sàng để giải phẫu, xét nghiệm và sử dụng thuốc tiếp, trong khi vợ tôi và tôi ngồi hằng ngày túc trực bên cạnh giường nó.

 

Arlene và tôi đã đề nghị bỏ máy thở và thay nhau bế Casey. Khi Arlene trao nó cho tôi và nói rằng nó đang lạnh dần, tôi tìm cách sờ mặt, sờ tay, cố làm cho nó ấm dần lên bằng cách ôm chặt nó, nhưng tôi cảm thấy như cuộc sống đang rời bỏ thân xác nó. Tôi ôm chặt nó mạnh hơn khi nó thở những hơi thở cuối cùng và chết trong vòng tay của tôi. Thế giới mà tôi biết hình như đang sụp đổ và tôi không còn chịu đựng được nữa. Tôi muốn kết liễu cuộc đời mình và vợ tôi cũng vậy, nhưng chúng tôi đã đỡ nhau dậy và dồn hết tình yêu còn lại cho đứa con gái của chúng tôi là đứa bé mà chúng tôi không thể lìa bỏ được.

 

Đó là câu chuyện của tôi và câu chuyện của con tôi - Casey Allen Shea, một đứa bé trong số bệnh nhân được đưa vào đống hồ sơ bệnh viện mà người ta sẽ lưu giữ và không bao giờ còn nghe lại nữa, những tiếng kêu Bố, Bố, Bố. Casey tiếp tục vẫn xuất hiện với tôi theo nhiều cách, như một đứa trẻ của chiến tranh, như một trẻ em Việt Nam, như một đứa trẻ mồ côi, như một người Cuba, như một người Nga, và một người châu Phi, như một đứa bé của thế giới khi nó thì thào bên tai hỏi rằng những người này khác tôi cái gì, những người mẹ, người cha, người anh, người em, người chị nào thì mới phải chịu đựng nỗi đau mà tôi đã chỉ cho nó thấy. Họ có quyền gì mua súng đạn giết hại những trẻ em của người khác, không cho những người đó được cùng hưởng tương lai. Họ có quyền gì sản xuất ra hóa chất để đầu độc đất đai và dân tộc của nước đang ngáng chân họ thực hiện những tham vọng to lớn, phải chăng đó không phải là tội ác khi ngay cả trong thời gian chiến tranh lại đi đầu độc mùa màng thực phẩm của một dân tộc?

 

Thế giới lên án chiến tranh hóa học vì nó không chỉ sát hại binh sĩ mà còn cả đàn ông, đàn bà và trẻ em vô tội, cả những kẻ chiến thắng lẫn nạn nhân đều bị những tổn thương và cuộc chiến tranh đó đã làm què quặt hết thế hệ này đến thế hệ khác của những người bị phơi nhiễm các chất độc của cuộc chiến tranh đó.

 

Casey - cũng như con cái các bạn vậy, sẽ không bao giờ chỉ là một thông tin được thống kê. Xin đừng quên rằng những loại số liệu thống kê như vậy đều bằng da thịt và máu con người. Chúng có tên, chúng có cuộc sống và những câu chuyện của chúng cần được kể ra cho mọi người biết. Những cái chết của họ đòi phải có công lý và những nạn nhân còn sống phải được đền bù và tất cả chúng ta phải làm việc để kết thúc sự điên cuồng của chiến tranh.

 

Tôi muốn lần nữa cảm ơn tất cả các bạn đã cho phép Casey trở về với tôi, bằng cách cho phép nó sống lại một lần nữa, trong một ít phút, trong ký ức tôi, khi tôi nói về nó và khi tôi được phép đem nó đến đây và giới thiệu với các bạn.

 

Cảm ơn các bạn.

 

Hòa bình và sự đoàn kết.

VAVA (Theo Nhân dân)


 
 

Các bài mới:
     LỜI KHAI MẠC ĐẠI HỘI II HỘI NẠN NHÂN CHẤT ĐỘC DA CAM/DIOXIN VIỆT NAM (29/12)
     Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp từ trần (21/04)
     Nhân Ngày Vì Nạn nhân Chất độc Da cam/Dioxin Việt Nam (10-8), thư gửi các Nạn nhân chất độc da cam Việt Nam (15/08)
     Phát biểu của chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam Tại phủ chủ tịch, ngày 6-8-2007 (15/08)
     Phát biểu của chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam Tại buổi giao lưu nghệ thuật “công lý và trái tim 3” (15/08)
     Phát biểu của đồng chí Nguyễn Thị Doan -Phó chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Tại buổi giao lưu “công lý và trái tim 3” (15/08)
     Chúng ta với tư cách là con người cần học để nhận biết rằng sự đầu độc của chất khai quang hóa học đã xảy ra quá lâu rồi (20/06)
Các bài đã đăng:
     Công lý cho trẻ em nhiễm chất da cam/dioxin Việt Nam (18/06)
     Tuyên bố về vụ kiện của các nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam: Hội Luật gia Việt Nam sát cánh cùng các nạn nhân để đòi công lý (18/06)
     Phải thật sự hàn gắn vết thương chiến tranh (18/06)

Các tin khác 

Tìm kiếm
 

Liên kết Websites

Các nhà tài trợ

417128

@Trang thông tin điện tửVava - Hội nạn nhân chất độc da cam
Địa chỉ: B17 Kim Liên-Đông Đa-Hà Nội
Điện thoại:(+84)-4-5745658. Fax:(+84)-4-5745658